watch sexy videos at nza-vids!
WAPVN.US
15:11:4518/05/2024
Kho tàng truyện > Truyện Dài > DÃ SỮ > Đoán Án Kỳ Quan Tập 2 1 - 11 - Trang 5
Chỉ mục bài viết
Đoán Án Kỳ Quan Tập 2 1 - 11
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Trang 8
Trang 9
Trang 10
Trang 11
Trang 12
Trang 13
Trang 14
Trang 15
Trang 16
Trang 17
Trang 18
Trang 19
Trang 20
Tất cả các trang
Trang 5 trong tổng số 20

Chương 3 (C)

Hôm sau, Vương Tuần phủ trao trát và hiểu dụ trước ba quân, giao Giám kỷ tuyển chọn. Công tử bèn lệnh cho quân sĩ, ai có thể bắn ngoài trăm thước, nâng được năm trăm cân thì mới trúng tuyển. Chọn mười ngày chỉ được ba trăm người. Công tử mua trâu, rượu khao quân, trực tiếp huấn luyện võ nghệ, cùng đồng cam cộng khổ với quân sĩ, ai ai cũng phải khâm phục. Chỉ mấy tháng, tất cả quân sĩ đều dũng mãnh như hổ lang. Có lần giặc đến, công tử xông pha gươm giáo cung tên, chỉ huy ba trăm hùng binh, xung phong hãm trận, không trận nào không chiến thắng. Ngay cả bọn giặc mạnh nổi tiếng xưa nay, thấy quân của công tử đến đều bỏ chạy. Vương Tuần phủ dâng tấu tâu với triều đình về công tích của công tử, được triều đình phong lên chức phó tổng binh. Tuy được phong chức quan võ cũng coi là một dịp may, không uổng công nuôi chí lớn lâu nay, song họa phúc khôn lường, thăng trầm khó biết.
Dân tộc Miêu, Man ở vùng Quý Châu sống xen kẽ nhau, bên ngoài là động Miêu, chủ động gọi là Thổ ty, có quyền sinh quyền sát cả một vùng, song cũng chịu sự khống chế của Tuần phủ. Thời ấy có một động chủ tên là An Bang Ngạn, tính hay lật lọng ngang ngược khác thường. Hắn cậy quân mạnh, địa thế hiểm trở không theo lệnh vua, nhiều lần quấy nhiễu nội địa, giết hại nhân dân. Khi Vương Tuần phủ tới nhậm chức, có ý định tiến đánh vào sào huyệt của chúng. Song dưới trướng chưa có tướng tài, nên tạm thời nín nhịn chưa tiến quân. Nay công tử làm tướng, thắng giặc khắp nơi, uy danh lừng lẫy, bèn quyết tâm đánh dẹp. Một mặt gửi giấy về kinh, đồng thời hạ lệnh xuất quân, chọn công tử làm tiên phong, đem ba ngàn quân đi tiên phong, còn mình chỉ huy trung quân tiếp viện phía sau.

Quân tiên phong tiến vào biên giới đất Miêu, quân Miêu nghe tin bỏ chạy tán loạn, thế mạnh như chẻ tre. Xem chừng còn cách động không xa, có quân sĩ về cấp báo: "Trước mặt động là cửa rừng hiểm trở, có quân Miêu chốt giữ". Thấy trời đã tối công tử ra lệnh dựng trại đóng quân, ngày mai sẽ tiếp tục tiến. Thấy bên cạnh có núi, trên núi, đá nằm ngổn ngang rất nhiều, công tử bèn lệnh cho quân sĩ rời trại lên núi, không cho quân sĩ nghỉ ngơi, nhặt thật nhiều đá chất bên mình, cao ngang vai mới thôi. Nếu có giặc đến sẽ dùng đá ném xuống, nhất thiết không được dùng súng và cung nỏ.
Động chủ An Bang Ngạn biết có quân triều đình tới gần, tụ tập quân lính, trước hết chốt giữ nơi hiểm yếu chờ địch tới. Thấy quân triều đình đóng cách đó gần mười dặm, bèn truyền lệnh đến canh hai tiến quân, cướp trại, giết cho bằng hết. Bọn giặc đến, công tử hạ lệnh: "Khi nào bọn giặc tới, cách mười bước mới bắt đầu ném đá xuống". Quân Miêu xông tới như ong vỡ tổ chỉ thấy đá ném xuống như mưa, sát thương gần hết, không sao tiến lên được, cứ liên tục như thế tới mấy lần, quân Miêu chết không sao kể xiết.

Trời gần sáng, trên núi bỗng có một tiếng pháo nổ đinh tai, quân lính ồ ạt xông xuống, tất cả đều dũng mãnh tiến lên, tranh nhau lập công, súng, cung tên bắn như mưa. Bởi vì ban đêm hoàn toàn dùng đá chống địch, hỏa khí và cung tên dư thừa nên bây giờ thả sức bắn vào quân địch. Quân Miêu làm sao chống cự nổi, chúng đại bại bỏ chạy. Công tử dẫn ba trăm quân tinh nhuệ đuổi sát nút, tiến thẳng vào cửa hiểm yếu. Quân Miêu chốt giữ tại đó, kẻ chết, đứa bỏ chạy. An Bang Ngạn dẫn tàn quân chạy về đông, cố thủ không ra. Công tử một mặt báo tin thắng trận, một mặt chốt giữ cửa động, chờ hậu quân tới cùng ồ ạt tấn công vào động.
Vương Tuần phủ biết tiền quân đã thắng lớn, bèn dẫn đại quân tới, vây chặt cửa động, ngày đêm đánh vào. Bang Ngạn thấy quân triều đình thế mạnh, nghĩ rằng khó mà chống nổi, bèn chạy trốn ra phía sau, tới một động khác cầu cứu. Thấy tình hình trong động thay đổi, công tử thừa thế tấn công vào.
Người xưa thường nói: "Rắn mất đầu không sao bò được", số quân Miêu còn lại đều quỳ gối xin hàng. Vương Tuần phủ lập tức đóng quân trong động, kêu gọi thổ ty các động nếu không đến thì lập tức đem quân tiến công vào sào huyệt. Các thổ ty đều sợ kéo quân ra hàng, nguyện sẽ sẵn sàng theo triều đình.
Công tử nói với Vương Tuần phủ rằng:
- Tên đầu sỏ đã chạy trốn, quân Miêu đã hàng phục. Nếu như chia đất của Bang Ngạn cho các thổ ty cai quản, thổ ty các động khác nhất định hợp sức tấn công, chẳng mấy chốc có thể chặt được đầu Bang Ngạn mang về tế cờ. Toàn quân kéo về đó là thượng sách. Nếu không thì việc để lâu sẽ sinh biến, khó bảo toàn thắng lợi lâu dài.
- Quân Miêu ngang ngạnh từ lâu, - Vương Tuần phủ nói, ta đang thắng thế, chúng rất khiếp sợ, ta muốn sát nhập các nơi vào bản đồ, chiếm các nơi hiểm yếu, đặt quan đàn áp, vĩnh viễn diệt trừ tận gốc cái hại vùng biên giới. Hơn nữa Bang Ngạn chưa bị bắt phải bắt ngay để trị tội, mới thể hiện rõ quốc Uy.
- Nếu thực hiện kế ấy, - công tử nói, - e rằng các động sẽ nghi ngờ, sợ hãi rồi sinh ra thay lòng đổi dạ, mà đã thay lòng đổi dạ tất sẽ cắt đứt các đường, quân ta vào sâu khu trung tâm sẽ tiến thoái lưỡng nan.
Vương Tuần phủ cho rằng công tử nói thế không đúng.

Mấy hôm sau, quân Miêu thấy đại quân không rút, hết thảy đều nghi kị, cho rằng tuần phủ muốn chiếm đất của họ. Về sau quân triều đình kêu gọi, thì chẳng thấy động nào ra. Lúc ấy, thấy quân Miêu đã thay lòng, theo lời công tử, Vương Tuần phủ lệnh cho quân sĩ, đổi trung quân thành quân tiên phong, lệnh cho công tử bảo vệ phía sau, lần lượt rút khỏi biên giới quân Miêu.
Nào ngờ An Bang Ngạn trốn tới động Sinh Miêu, nói bừa rằng tất cả của cải châu báu không biết bao nhiêu mà kể đã bị quân triều đình chiếm hết, mong được mang quân đến cứu, giết hết quân triều đình, trừ đất đai ra, con gái, ngọc lụa... các chủ động sẽ lấy hết mà dùng. Người Miêu vốn rất tham lam, nghe thấy nói thế, hớn hở theo ngay. Thế rồi đem mấy ngàn quân cùng với số quân còn lại của Bang Ngạn nhất tề tiến công. Quân Miêu đều nhận được lệnh, thấy đại binh đã lên đường đều theo các ngả đường kéo tới.
Tuy đã rút quân, song chưa biết Bang Ngạn quay lại, quân Miêu theo quân phản nghịch, Vương Tuần phủ dọc đường dựng . trại đóng quân, hoàn toàn không phòng bị biến loạn. Đêm ấy, vừa lúc canh hai, quân sĩ đang ngủ say, bỗng nghe thấy tiếng la hét ngoài doanh trại, vội vàng bật dậy, mang quân ra ngoài doanh trại nghe ngóng. Chỉ thấy quân Miêu rất đông tràn vào doanh trại. Quân lính đang ngủ chợt tỉnh, hồn vía rụng rời, bị quân Miêu chém chết như ngả rạ, bó tay chịu chết. Tuần phủ đem quân nghênh chiến, thấy quân Miêu tràn tới, quân của mình bị giết gần hết, khí giới mất sạch, không còn đường thoát, than rằng: "Tiếc thay ta không theo lời công tử!". Rồi dùng dao tự vẫn.
Đội quân phía sau của công tử cách đó mấy dặm, nghe thấy phía trước có tiếng thét "giết, giết", vang trời dậy đất, biết rằng đại quân đã thất bại, vội vàng đem quân tới cứu. Bỗng thấy mấy người lính sống sót chạy tới báo:
- Chủ tướng đã chết, toàn quân bị tiêu diệt!
Công tử vô cùng kinh hãi, quân lính hoảng loạn, vừa truyền lệnh phải bình tĩnh, thì quân Miêu đã ập đến trước mặt. Công tử liều chết nghênh chiến, tuy giết được mấy trăm quân Miêu, nhưng hình như càng giết càng thấy đông, giặc vây bốn phía, ba ngàn quân chết gần hết, chỉ còn ba trăm quân thân cận theo công tử, tả xung hữu đột. Quân Miêu vây chặt, đến khi trời sáng tất cả đều trọng thương. Quân Miêu biết đấy là đội quân tinh nhuệ, chúng dùng nỏ, cung tên tẩm thuốc độc từ xa bắn tới như mưa, dính tên là ngã vật. Công tử liều mạng chạy. theo đường tắt, nào ngờ ngựa trúng tên gục ngã, công tử bị quân Miêu bắt được, giam vào doanh trại. Đúng là:
Rồng sa vũng cạn bị tôm cười
Hổ lạc đầm sâu khiến chó khinh

Công tử không còn hi vọng, chỉ có đường bó tay chờ chết. Tự nhiên thấy một tên lính Miêu đi tới, nhìn công tử từ đầu đến chân, rồi khe khẽ hỏi:
- Ngài có phải là công tử Tường Phù Tăng không?
- Đúng đấy. - Công tử đáp.
Người ấy bỏ đi, tối đến mang rượu thịt tới nói với quân tiêu rằng:
- Chủ tướng đang mang quân truy đuổi, để chúng ta lại đây coi giữ, bọn người này có chạy lên mây. Đêm nay chúng ta cứ việc ăn uống cho thỏa thích.
Thế rồi chúng reo hò ầm ĩ, uống thả sức say túy lúy. Người ấy bèn cởi trói rồi kéo công tử chạy. Ra khỏi cửa doanh trại, đến chỗ đường tắt vắng vẻ, người ấy biếu công tử một thanh gươm, một bao lương khô, rồi nói:
- Đây là con đường nhỏ đi hai ngày hai đêm sẽ tới vùng Trung Thổ thì công tử sẽ sống.
Công tử hỏi họ tên. Người ấy nói:
- Công tử còn nhớ tên ăn trộm tại trang trại của công tử Không? Người ấy chính là tôi. May mà được công tử cho tiền lộ phí trở về nhà, sau đó vào động gia nhập quân Miêu. Nay quân Miêu động ta bắt được công tử, may mắn gặp được công tử, nên tìm cách cứu, để báo đền ơn xưa. Xin công tử đi ngay đừng nấn ná nữa.

Đang lúc cuống cuồng gấp gáp, công tử không kịp cảm ơn, ba chân bốn cẳng rời khỏi nơi này, chẳng quản gì đến núi rừng hiểm trở, gập ghềnh. Đi tới sáng, thấy bụng đói cồn cào, mới lấy gói lương khô ra, thì thấy một mảng thịt trâu, dùng dao cắt ăn một bữa no, rồi lại tiếp tục đi. Tuy gặp mấy chỗ hiểm yếu song không thấy một tên lính Miêu nào ngăn cản. Đi thêm một thôi đường nữa, thì thấy đường dần dần bằng phẳng, xa xa đã thấy nhà dân, lúc đó mới tin rằng đây là địa giới miền Trung Thổ. Nhân dân vùng biên đang lo sợ quân Miêu tới, vừa thấy bóng công tử, biết là trốn từ động Miêu ra, tranh nhau hỏi. Công tử kể hết sự tình, họ mới biết đây là một vị quan, rồi vội vàng mời công tử lưu lại ăn cơm. Công tử hỏi:
- Từ đây tới tỉnh thành còn bao xa nữa?
- Đi theo đường tắt còn gần một trăm dặm nữa, - có người nói, - chờ chúng tôi chuẩn bị ngựa đưa đi cho tiện.
Lại đi thêm một ngày, tới tỉnh thành, quan viên coi giữ ở đây biết Tuần phủ đã tử trận, đại quân không trở về, hoàn toàn lấy dân chúng lên thành canh gác, cửa thành đóng chặt. Thấy công tử trốn về, mới mở cửa cho vào. Công tử nhìn các quan òa khóc, nói là mình đã làm mất quân, làm nhục nước, thật đáng tội chết. Có người nói:
- Tướng quân đừng đau buồn nữa, bây giờ thành đang trơ trọi, cần phải hợp sức coi giữ.

Công tử đến dinh Tuần phủ, an ủi gia quyến ông, rồi lên thành coi giữ như cũ. Bởi vì công tử trước đây uy danh lừng lẫy nay trốn về được các quan tôn làm Trưởng thành, lúc ấy nhân dân mới yên tâm đôi chút. Rất may quân Miêu chỉ cướp đoạt vùng biên giới, không dám vào sâu, cho nên tỉnh thành vẫn an toàn.
Công tử nghĩ rằng xưa kia mình tình cờ cứu giúp một người, nay cũng tình cờ được người ấy cứu thoát, chẳng phải là việc kì lạ sao? Song không biết rằng tội thua trận, triều đình sẽ xử trí thế nào, nên suốt ngày lo lắng.
Chưa đầy nửa tháng, bỗng nghe tin Tuần phủ mới đi ngựa tới nhậm chúc, công tử mang quân ra nghênh tiếp, đưa tờ thiếp, lập tức truyền cho vào gặp. Công tử cùng các quan yết kiến quan Tuần phủ xong. Tuần phủ hỏi:
- Ai là Tăng Anh?
- Thưa ngài, tôi là Tăng Anh. - Công tử thưa.
- Ngươi có biết chiếu chỉ của triều đình không? - Quan Tuần phủ hỏi.
Nghe thấy có chiếu chỉ, công tử bèn quỳ xuống. Tuần phủ nói:
- Chiếu chỉ của vua nói là, Vương Tuần phủ chết vì nước, tặng chức tước, ban thụy hiệu, những tướng quân bại trận chạy trốn về, không ứng cứu đều giải về kinh, giao cho Tam pháp ty xét xử định tội. - Sau đó Tuần phủ mới lại nói với công tử rằng: "Ta cũng biết ngươi là viên tướng tài, nhưng thánh chỉ rất nghiêm minh, ai dám bảo lưu ý kiến của mình".

Nói xong Tuần phủ lập tức cho cởi bỏ áo mão cân đai, đeo gông vào cổ, rồi sai người giải về kinh. Những bạn đồng liêu quyên góp tiền biếu công tử làm lộ phí, và dặn dò công tử đi đường phải cẩn thận.
Công tử cho hết những người hầu của mình về, chỉ giữ lại bốn người nhà đi theo tới kinh đô. Ngày đi đêm nghỉ, tới kinh đô công tử bị đưa đến giam trong nhà giam Bộ Hình, giao cho Tam pháp ty thẩm vấn. Ngày hôm sau công tử được dẫn ra khỏi ngục, thẩm vấn ngay tại chỗ. Đứng ngay dưới thềm nhà tù công tử tự viết lời khai, khai hết mọi việc đã xảy ra, từ nguyên nhân thất bại, đến việc mình ở đội quân phía sau, không kịp ứng cứu, để đến nỗi bị bắt, và thừa cơ trốn thoát. Tam pháp ty nói:
- Ngươi là tiên phong, không bảo vệ được chủ tướng, bị bắt rồi trốn thoát, tội này quá lớn. Sau đó lại cho vào nhà giam, xin chiếu chỉ định đoạt.
Cần hiểu rằng pháp luật thời Minh tội nặng nhất là để mất thời cơ, phàm là những người để mất thời cơ đều bị hành quyết. Huống hồ là công tử thoát thân một mình, không cứu viện, nhất định sẽ chịu tội nặng. Thời ấy, ai bị giam ở Thiên lao thì chỉ còn đường kề cổ vào lưỡi đao. Bốn người nhà công tử cũng nghĩ rằng chủ mình sớm muộn rồi cũng bị tử hình. Họ khóc lóc tiếc thương. Bỗng một hôm, ngục quan cười ha hả tới nói rằng:
- Ngài Tăng, rất may ngài vô sự! Thượng thư Bộ Binh dâng sớ tâu rằng, ngài là nhân tài có ích cho đất nước, hãy nghĩ tới việc dùng ngài sau này. Thánh thượng chuẩn y, hạ lệnh miễn tội chết, cho ra chiến trường lập công chuộc tội.
- Tôi đáng tội chết, làm sao mong được ơn trời biển ấy. - Công tử nói.
Đang lúc nửa tin nửa ngờ, thấy Bộ Hình gửi giấy tới, lập tức công tử được thả ngay. Công tử vui mừng không sao kể xiết chẳng khác nào thoát khỏi địa ngục của quỷ sứ Diêm vương. Công tử từ biệt quan coi ngục ra khỏi Thiên lao, tìm chỗ nghỉ ngơi. Người nhà vô cùng vui sướng.
Song công tử nghĩ rằng: "Trần thị lang mình vốn không quen biết, sao lại dâng sớ cứu mình". Thế rồi công tử đưa danh thiếp quỳ trước cửa tạ ơn. Thị lang nói:
- Xin mời ông đứng dậy, đó là do ngài cống hiến tài năng cho đất nước, chứ đâu phải tôi ra ơn cho ngài. Người thi ân cho ngài, đó là vị tân khoa Hàn lâm Kim Lương, xin ngài đi tạ ơn quan Hàn lâm mới phải.
Công tử vâng dạ rồi cáo từ. Công tử nghĩ: "Kim Hàn lâm mình cũng chua gặp bao giờ, vì sao ngài lại cứu mình, cứ mờ mờ mịt mịt không sao hiểu nổi". Thế rồi ông mang danh thiếp tới nhà ngài Kim Hàn lâm. Hàn lâm thấy đanh thiếp, lập tức mời vào tư dinh. Hai người chào hỏi, rồi ngồi vào bàn. Công tử nói:
- Tôi vừa tới tạ ơn Trần đại nhân, ngài nói tính mạng của Tăng Anh hoàn toàn do lão tiên sinh cứu vớt, cho nên tôi tới tạ ơn ngài.
Nói xong định quỳ xuống, quan Hàn lâm đỡ dậy nói:
- Tính mạng của ông do một người khác cứu, tôi không dám nhận ơn. Cũng không phải là người này cứu mà do ngài tự cứu.
Nghe xong công tử càng thêm khó hiểu, chắp tay nói:
- Xin tiên sinh nói rõ.
- Chút nữa sẽ biết. - Kim Hàn lâm nói.
Sau đó ông mời vào thư phòng, bày tiệc khoản đãi. Hai người uống xong vài tuần rượu, quan Hàn lâm hỏi công tử về việc xuất quân. Công tử kể lại tỉ mỉ từ đầu đến cuối. Quan Hàn lâm nói:
- Đây là do trời quý trọng tài năng, không nỡ hủy hoại anh hùng, đây là phúc lớn của triều đình, cho nên khắp nơi gặp hiểm nguy mà vẫn thoát chết.
Hai người đang nói chuyện vui vẻ, thì tiểu đồng vào báo:
- Phu nhân đã tới.
Chỉ thấy một đám con gái, đi theo một vị phu nhân ăn mặc lộng lẫy. Công tử định đứng dậy tránh ra, thì phu nhân đã quỳ xuống nói:
- Xin mời ân nhân ngồi lên để thiếp bái tạ.
Quân tử không kịp tránh, đành quỳ xuống. Quan Hàn lâm hai tay đỡ dậy. Công tử phủ phục xuống đất không dám dậy, chờ phu nhân bái xong quay vào trong mới đứng dậy hỏi, quan Hàn lâm nói:
- Lẽ nào ngài không nhận ra? Người ấy là Lục thị, từng lâm nạn ở am ni cô đấy. Nhờ ngài cứu vớt, rồi lại cứu cha bà ra khỏi nhà tù, cả nhà đã mang ơn công tử. Thời tôi chưa đỗ, lưu lạc tới Ninh Lăng, vì vợ trước qua đời, lấy bà làm vợ. Lúc nào bà cũng ca ngợi ân đức của ngài. Tôi kính phục nghĩa khí của ngài từ lâu. Nay nghe thấy ngài mắc tội bị giam trong ngục, bà nhà tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi thuộc loại thư sinh mới đỗ tiến sĩ. Những việc lớn trong triều không dám nói, đành phải khẩn thiết nhờ thầy đứng ra dâng tấu sớ. Rất may được ơn vua tha tội. Điều ấy hoàn toàn do đức độ của ngài vậy. Hôm nay bà nhà tới bái tạ như thế mới phải. Nếu trước đây ngài không trọng nghĩa, thì sao được báo đền như ngày nay, vậy ngài phải tạ ơn chính mình.
Nói xong Kim Hàn lâm vỗ tay cười ha hả. Lúc ấy công tử mới rõ, rồi nói :
- Kì lạ, kì lạ thật.
Quan Hàn lâm nói với công tử rằng:
- Tôi và ngài tuy mới gặp nhau lần đầu, song về tinh thần thì đã biết nhau từ lâu rồi, xin nguyện kết nghĩa anh em, không biết ngài có cho phép không?
- Đã nhận thì bao giờ bỏ nhau, - công tử nói, - đâu dám không vâng lệnh.
Thế rồi họ bày hương án, hướng lên trời cao vái lạy. Nói về tuổi tác Kim Hàn lâm hơn công tử ba tuổi làm anh, công tử làm em. Phu nhân bên trong nghe thấy rất vui. Công tử nói:
- Đã là anh em thì phải coi nhau như ruột thịt, xin mời chị ra bái kiến.
Hàn lâm mời phu nhân ra phòng ngoài, rồi cùng với vợ chào em kết nghĩa. Công tử tạ ơn cứu mạng. Kim Hàn lâm nói:
- Hai bên làm ơn, thì cứ nói thẳng ra.
Cả ba người cùng cười, rồi lại tới thư phòng. Hai người vui vẻ uống rượu cho mãi tới tàn canh mới chia tay.

Sau đó mấy hôm, Bộ Binh gửi trát xuống, lệnh công tử tới Quý Châu làm việc, công tử không dám nấn ná. Vợ chồng quan hàn lâm đến hậu tạ, bàn tiệc tiễn chân, gạt nước mắt chia tay. Công tử tới Quý Châu, gắng sức mấy năm, nhận chiếu chỉ phục hồi chức cũ. Mãi hơn ba mươi tuổi mới lấy vợ, quả như đã nói trước đây. Về sau tiêu diệt hết quân Miêu, nhiều lần lập công, được thăng tới chức Đô đốc, áo gấm về quê. Công tử sinh được hai con trai, đến thời Sùng Trinh họ đều đỗ tiến sĩ.
Những người đọc truyện này, nếu không phải là người hào kiệt trời sinh như công tử, thì cũng học làm những việc vì nghĩa mà cứu giúp người, thì sau này nhất định sẽ được đền đáp.

Chương 4

Dẹp Bọn Côn Đồ Tạm Thời Gặp Biến
Khiến Huyện Quan Phẫn Uất Quyết Rửa Oan

Thời cuộc đổi thay như bàn cờ, trắng đen khó biết, thắng bại khôn lường. Danh thủ thắng người một nước. Lòng trinh giữ tiết gặp quỷ ma. Đạo trời lồng lộng, công luận vô tư, danh thơm lưu truyền muôn thuở.
Hữu Điệu "Thái Tang tử”
Xưa nay, con gái không gì quan trọng bằng "tiết liệt". Tiết có nghĩa là giữ mình trong sạch, vượt mọi gian khổ suốt đời không thay đổi chí mình. Liệt tức là ý muốn cháy bỏng, nếu chồng chết thì hi sinh cả bản thân, nếu gặp bọn cường bạo bức bách, không chịu ô nhục, dám quyên thân để bảo vệ. Cần biết rằng việc quyên sinh là điều bất hạnh của người con gái. Song khi sống, ngọc nát châu chìm, nhưng chết đi thì như trời quang mây tạnh, mặt trời sáng tỏ, người thân hết lời ca ngợi, nhà nước ra sức nêu gương, không uổng chí quyên sinh. Xưa nay chưa có ai, vì phải trái đảo lộn đến nỗi sau khi chết phải ngậm oan. May mà nhân tâm trong sáng, công luận rõ ràng. Bởi thế bọn gian phu dâm phụ, bọn côn đồ độc ác đều bị tiêu diệt. Không đến nỗi trong đục bất phân, vàng thau lẫn lộn. Hãy nhìn trời cao lồng lộng, đạo trời thật không sai.

Thời Gia Tĩnh triều Minh, ở trấn An Đình, huyện Gia Định, phủ Tô Châu, có liệt nữ Trương thị. Cha là Trương Diệu, mẹ là Kim thị. Từ nhỏ Trương thị nết na dịu dàng, cử chỉ đoan trang, nói cười phải lẽ. Năm mười sáu tuổi cha mẹ muốn gả chồng. Vừa may có người họ Vương quê ở Gia Hưng tới sống tại Yên Đình, người ta đều gọi là Uông Khách. Vợ ông ta là người dâm đãng, tên là Mỗ thị, chỉ đẻ được một người con trai. Khi chưa lấy Uông Khách, Mỗ thị đã là người lăng nhăn, đến khi lấy chồng thì vẫn tựa cửa bán hoa, thường ngày chơi thân với một đám bạn mới. Tuy đã trung tuổi, con cũng đã mười mấy tuổi, song vẫn chứng nào tật ấy. Uông Khách là gã nát rượu chỉ mấy chén quốc lủi là gã quên hết sự đời. Bọn trai tơ đi lại lăng nhăng mà Uông Khách vẫn điềm nhiên như không. Vợ ông ta được đà lại càng ngang ngược khác thường. Mọi việc trong nhà Uông Khách chẳng có quyền gì.
Khi tìm vợ cho con trai, Uông Khách bàn với vợ. Vợ nói:
- Nghe người ta nói con gái Trương Diệu rất xinh đẹp, thật hợp ý tôi.
Vợ nói thế, Uông Khách đồng ý, rồi nhờ mối tới hỏi. Người xưa nói: "Mối lái nói như rồng như phượng". Bà ta đến nhà Trương Diệu, tô vẽ nhà họ Uông như hoa như gấm. Nào là chàng rể thông minh, nào là mẹ chồng hiền thục. Nếu như ngày ấy Trương Diệu tìm hiểu kĩ một chút thì không đến nỗi con gái mình phải rơi vào địa ngục trần gian. Nào ngờ, ông vốn tính thẳng thắn, tin người. Bà mối vừa nói ông đã bằng lòng gả con gái cho con Uông Khách.

Hai năm sau, trai to gái lớn, nhà họ Uông chọn ngày tốt cưới về, cũng chăng đèn kết hoa, cũng kèn sáo vang lừng. Thời ấy bọn giúp việc cho nhà họ Uông đều là loại chó má, rất thân thiết với vợ Uông, Uông Khách vẫn cứ buông lơi. Trương thị về nhà chồng, bái lạy cha mẹ chổng, mẹ chồng lại lệnh phải bái lạy khách khứa. Tục ngữ nói rất đúng: "Người vừa đến không biết chuồng xí ở đâu”. Lạy hết lượt chẳng biết những người này thân thích với chồng mình thế nào. Cưới được mấy ngày, thì thấy những người này luôn ở trong phòng mẹ chồng, ra vào chẳng hề e dè kiêng kị. Cứ tối đến là tụ tập, chong đèn uống rượu, cùng với mẹ chồng cười cợt đùa bỡn, hoàn toàn chẳng biết sợ là gì. Bên kia, bố chồng ngày đêm say sưa. Chồng thì cũng mặc kệ không tiếp đãi. Một đêm cô nói riêng với chồng rằng:
- Bọn người này quan hệ với nhà anh thế nào?
- Họ đều là bạn tốt của cha tôi, - chồng nói, - họ quan hệ với gia đình đã từ lâu rồi.
- Đã là bạn tốt của cha anh, - Trương thị nói, - cớ sao lại cứ tụ tập suốt đêm, uống rượu trong phòng mẹ, làm những việc vô liêm sỉ, há không sợ người ta chê cười sao!?
- Mẹ muốn thế, - chồng cô nói, - thì cứ mặc mẹ, cô cũng đừng để ý làm gì.

Trương thị thấy chồng thản nhiên nói như thế, cũng không dám nói nữa. Cô cảm thấy vô cùng xấu hổ.
Trong bọn xấu đó có một đứa tên là Hồ Nham. Cha hắn là Hồ Đường, là người không chịu yên phận, thường hay ra vào cửa quan, thân quen với quan lại. Hồ Nham cậy thế cha, mặc sức ngông cuồng, khinh rẻ, áp bức người lương thiện. Ở trấn An Đình này không chỗ nào là hắn không tới. Song hắn lại là người mà vợ Uông thích nhất. Còn nhũng đứa xấu xa khác như Chu Luân, Chu Mân, đều theo hắn sai bảo. Tuy tất cả đều thông dâm với vợ Uông, nhưng chúng vẫn dành phần cho Hồ Nham.
Một hôm, Hồ Nham nói với vợ Uông:
- Con dâu nhà bà rất xinh đẹp, nhưng từ khi về nhà này nó chưa từng nói với chúng ta một câu nào, hình như nó trách bà. Thôi thì cứ kéo tuột nó xuống vũng bùn cho hòa cả làng, sau đó có thể mặc sức vui thú. Ý bà thế nào?
- Được voi còn đòi tiên. - Vợ Uông nói.
- Nếu không thế thì hành động của bà nhất định bị nó khinh bỉ. - Hồ Nham nói. - Chúng ta ở đây bị nó nhòm ngó, chẳng khoái chút nào.
- Việc này ta rất khó nói, - vợ Uông nói, - anh đi mà dụ dỗ nó vào tròng.

Từ đó mỗi khi gặp Trương thị, Hồ Nham thường cười cợt, nói với cô những điều chớt nhả, tục tĩu dâm đãng. Trương thị đều bỏ ngoài tai, giận dữ bỏ đi.
Một hôm Hồ Nham ngủ với mẹ chồng, rồi hắn nói:
- Con dâu mới của bà sợ bà chửi, cho nên không chịu thân thiết với ta. Thôi thì cứ gọi nó tới để nó nhìn tận mắt chúng ta đang ngủ xem nó thế nào.
Dâm phụ lập tức lên tiếng gọi con dâu vào. Trương thị tuy biết mẹ chồng không đoan chính, song cô hết sức vâng lời. Nghe thấy tiếng gọi, ngỡ rằng không có người trong phòng, cô liền vào ngay. Chỉ thấy mẹ chồng đang nằm trên giường gọi, mở màn ra cô nhìn tận mắt thấy người đàn ông và một người đàn bà đang hành dâm. Trương thị quay ngoắt về phòng mình, đấm ngực dậm chân khóc tức tưởi bỏ về nhà mẹ đẻ. Người chồng dẫn cô về. Thấy bố mẹ, cô gào lên khóc, nói:
- Con thà chết ở nhà, chứ không đến nhà ấy nữa.
Lúc đầu cha mẹ hỏi tại sao, cô không nói. Sau mẹ cô tỉ tê hỏi, lúc đó cô mới nói hết những hành vi xấu xa của mẹ chồng, và muốn nhảy xuống sông chết cho rảnh. Cô nói:
- Con không muốn tấm thân trong sạch của con bị ô nhục như thế, cho nên thà chết con cũng không về.
Kim thị thấy thế cứ than khóc mãi, song hối không kịp nữa. Ở nhà mẹ đẻ mấy tháng, chồng cô nhiều lần đến đón về, song cô khăng khăng không chịu.
Nào ngờ Hồ Nham mưu gian chưa đạt, tà dâm vẫn còn. Hắn nói với vợ Uông rằng:
- Dâu mới về nhà mẹ đẻ đã lâu sao không đón nó về? Cứ để nó ở ngoài phỉ báng bà, thử hỏi bà còn mặt mũi nào nữa. Hãy đón nó về, giữ chặt nó trong tay mình thì nó chạy đằng trời.
- Nó không chịu về, thì làm sao bây giờ - Vợ Uông nói.
- Bảo con trai bà ngọt ngào dỗ nó, - Hồ Nham nói, - thì nó về ngay.
Quả nhiên vợ Uông theo lời, bảo con trai dùng lời ngon ngọt để dụ dỗ vợ về.
Người chồng đến nhà bố vợ, nói với Trương thị rằng:
- Từ khi cô về nhà mẹ đẻ tới nay, mẹ tôi đã hối cải rồi. Bây giờ thì bà sống trong sạch, không như trước nữa. Cho nên tôi tới đón cô về.
Trương thị nửa tin nửa ngờ, cha cô nói:
- Mẹ chồng có thể đoạn tuyệt, nhưng vợ chồng không thể bỏ nhau. Người xưa nói: "Trong thì vẫn trong, đục thì cứ đục", "vàng ròng không sợ lửa", sợ gì bà ta. Hơn nữa bà ấy đã nghĩ lại rồi thôi con về đi, đừng cố chấp như thế nữa.

Không còn cách nào khác, Trương thị đành chào cha mẹ về nhà chồng. Về đến nhà, thấy mẹ chồng vẫn y như cũ. Bọn côn đồ xấu xa vẫn dâm loạn ngay tại nhà. Vợ Uông giở trò độc ác suốt ngày gây gổ với con dâu, không chửi thì đánh. Trương thị cứ khóc lóc với chồng, khuyên chồng trừ khử bọn côn đồ. Lại nhân lúc Uông Khách tỉnh táo, thẳng thắn khuyên giải bố chồng:
- Cha nên ít uống rượu, chủ động trông nom cửa nhà.
Bố chồng là kẻ bù nhìn, hoàn toàn không để ý tới lời con dâu, mà còn đem chuyện đó nói với vợ. Vợ Uông tức giận, càng đánh chửi thậm tệ. Trương thị vẫn cứ phải lầm lũi nghe theo, và chỉ biết giữ gìn mình, không cho bọn Hồ Nham xúc phạm, để sống cho qua ngày đoạn tháng.
Một hôm, vào buổi tối, bọn côn đồ tụ tập trong nhà uống rượu Trương thị từ bếp lên, đi qua mặt Hồ Nham, đột nhiên hắn rút lấy chiếc trâm ngọc trên đầu. Trương thị dừng lại, vừa khóc vừa chửi. Hồ Nham nói:
- Nếu xin ta trả lại nguyên vẹn, thì nàng phải thế nào với ta đây?
Nói xong hắn đưa trâm cho Trương thị. Trương thị không cầm, hắn ném xuống đất, chiếc trâm gãy đôi. Vợ Uông nói:
- Ta đền thay cho anh Hồ.
Rồi rút chiếc thoa ngọc trên đầu đưa cho con dâu. Trương thị ném xuống đất, trâm gẫy đôi, rồi bực bội bỏ đi. Hồ Nham nói:
- Khó mà động vào được người Trương thị. Ta phải làm thế nào đây? Bà không sợ mất uy mẹ chồng ư?

Bọn người ấy xúm vào nói với vợ Uông rằng:
- Quả là bà không muốn vun vào cho Hồ Nham, mới đến nỗi như thế.
- Đừng nóng vội, - vợ Uông nói, - khi nào Hồ Nham muốn thì sẽ gặp vận may.
Thế rồi bọn ấy lại tiếp tục ăn no uống say mới về.
Trong nhà có một thằng ở tên là Vương Tú, cũng là người tình của vợ Uông. Một hôm mẹ thông đưa chiếc khăn tay cho con dâu thêu để tặng Vương Tú. Trương thị giận dữ nói:
- Nó chỉ là đứa ở mà thôi! Ta không quen thêu hoa cho bọn con ở!
Nói xong Trương thị ném chiếc khăn tay xuống đất không Thêu. Vợ Uông vừa phẫn uất vừa xấu hổ, chửi ầm lên, rồi thầm nghĩ: "Mày đừng cuống lên như thế, trời có sập thì mày mới thoát khỏi tay tao".
Lúc ấy đang là mùa hè, mỗi khi vợ Uông tắm, đều bắt con dâu lấy nước. Một hôm vừa mới tắm đã nghe thấy mẹ chồng gọi lấy nước thêm. Trương thị mang nước vào, thấy Hồ Nham cùng nằm trong bồn với mẹ chồng. Cô kinh hoàng chạy ra khỏi phòng khóc nức nở. Tắm xong vợ Uông nói với Hồ Nham rằng:
- Đêm nay anh hãy ngủ với đứa con dâu của ta.
Trước hết Hồ Nham cùng với vợ Uông bàn mưu, sai con trai tới huyện học quan coi ngục, để cho con dâu ngủ một mình, nhân lúc đêm tối lẻn vào là xong việc. Vì chồng đi vắng nên Trương thị luôn luôn phòng bị. Cô gối vào đầu giường một thiếc gậy ngắn để phòng thân. Đêm ấy, theo lời vợ Uông, Hồ Nham rón rén đến cửa buồng Trương thị, cửa cài chặt hắn bèn tháo cánh cửa sổ chui vào. Thấy có người vào buồng, Trương thị bèn đập giường kêu lên có kẻ giết người. Hồ Nham ôm chầm lấy cô. Trong đêm tối Trương thị cầm gậy quật túi bụi vào đầu vào mặt Hồ Nham. Hắn giơ tay ra đỡ, gậy vụt trúng tay, hắn tức tối chạy ra. Trương thị tuy không bị nhục, song càng nghĩ càng tức khóc suốt đêm. Đến hôm sau chẳng ăn uống gì, định bỏ về. Song cô không sao cất bước nổi, hơn nữa cửa buồng bị vợ Uông khóa chặt, không có lối thoát thân, trương thị chỉ biết ngồi kêu gào, muốn chết đi cho xong.

Đêm ấy, Hồ Nham tụ tập tất cả bọn côn đồ trong phòng, uống rượu, rồi bàn mưu tính kế. Hồ Nham nói:
- Nhẹ không ưa lại muốn ưa nặng. Lần này đành phải ra tay thôi.
- Tùy anh! Tùy anh! - Vợ Uông nói.
Uống rượu tới canh hai, rồi đứa nào đứa ấy cầm khí giới xông đến buồng Trương thị. Hồ Nham dứ dao vào mặt Trương thị nói:
- Đêm nay, theo ông thì sống! Không theo, thì ông sẽ xả thịt mày tan nát thành từng mảnh vụn.
Trương thị liều chết, gào lên chửi. Bọn chúng nói:
- Đến nước này mà mày còn bướng hả?
Hồ Nham tức khí quát:
- Đánh chết nó đi!
Thế là gậy gộc, rìu búa bổ xuống tới tấp. Trương thị mình đầy thương tích. Cô vẫn còn quằn quại chưa chết, gào lên nói:
- Sao chúng bay không đâm cho ta chết ngay đi!
- Mày muốn chết ngay thì ông cho mày chết. - Hồ Nham nói.
Rồi hắn đâm vào cổ, thuỗn qua vai, lại đâm luôn vào âm hộ. Cô chết hẳn.
Vợ Uông nói:
- Nó đã chết, giờ phải làm thế nào?
- Sợ quái gì! - Hồ Nham nói. - Chỉ cần mấy lạng bạc đút lót cho quan lại là xong hết.

Rồi hắn hò bọn đàn em khiêng xác chết đi chôn cho mất tích. Nào ngờ xác chết cứ như đóng đinh xuống đất, càng khiêng càng không nhấc nổi. Bọn chúng nói:
- Khiêng không nổi thì làm thế nào?
- Tiếc gì mấy gian nhà, hãy phóng hỏa đốt luôn chiếc xác này đi, thì còn đâu tang vật nữa?
Bọn chúng xúm vào châm lửa. Ai ngờ gió nổi lên thổi tạt lửa đi nơi khác. Xác cô gái vẫn còn nguyên tại chỗ, lửa không sao bén được. "Chẳng ai biết có quỷ thần hay không", đó là ý trời bắt chúng phải bại lộ. Thấy nhà Uông bốc lửa, những người láng giềng xông đến cứu. Lửa cháy ở nhà phía sau, họ bèn chạy ùa ra lối sau. Ngọn lửa dần dần bị dập tắt. Họ quay lại phía trước, thì thấy một xác chết nằm trên vũng máu tươi lênh láng. Mọi người kêu lên:
- Đúng là chúng giết người, rồi đốt nhà. Đã giết người ta còn muốn thiêu xác cho phi tang. Bọn chúng thật là vô lương tâm!
Lúc ấy bọn hung thủ đều trốn vào phòng vợ Uông. Mọi người la hét ầm ĩ, báo cho địa phương và báo cho nhà họ Trương biết. Vợ chồng Trương Diệu biết tin, lập tức chạy đến nhà Uông. Quả nhiên thấy xác con mình nằm trên vũng máu, họ đều gào lên khóc lóc. Lúc ấy vợ chồng họ Uông đều đã chạy trốn. Vợ chồng Trương Diệu chỉ biết khóc lóc báo lên quan để minh oan cho con, và nhờ những người láng giềng làm chứng, rồi lập tức viết cáo trạng.
Bọn côn đồ trốn trong phòng vợ Uông, thấy thân nhân người chết đã đi chúng mới thập thà thập thò, rồi chạy ra mồm năm miệng mười, bàn với nhau. Vợ Uông nói với chúng rằng:
- Trương Diệu nhất định sẽ kiện, giờ phải nghĩ ra kế gì để đối phó .
- Sợ gì, - Hồ Nham nói, - chỉ cần một mình bà nhận là được. Mẹ chồng đánh chết con dâu, có tội gì nặng đâu. Còn có một kế nữa là, cứ bảo rằng con dâu gian dâm với Vương Tú, tôi quở trách nó, song nó lại chửi lại, tôi lỡ tay đánh chết. Còn thằng Vương Tú cũng phải bảo cho nó biết trước, rồi hứa cho nó ít bạc, sau này sẽ chuộc tội cho nó, thì nhất định nó sẽ nhận. - Sau đó hắn lại nói với Uông Khách. - Ngày mai ông lên huyện tự thú trước đi.
- Ta chưa gặp quan bao giờ, - Uông Khách nói, - anh hãy lên huyện thay ta.
- Việc riêng trong nhà thì làm thay được, - bọn chúng nói, còn việc kiện tụng thì làm thay sao được.
- Đồ ngu! - Vợ Uông bảo chồng. - Hãy bảo vệ ta thì ta sẽ lo mọi việc cho, ngày ngày lại có cơm ăn rượu uống, như thế chẳng tốt lắm sao? Ngày mai lên huyện, mang sẵn đi mấy hũ rượu xuống thuyền mà nốc, có được không?
Nghe thấy có rượu uống, Uông Khách gật đầu lia lịa, nói:
- Chưa biết chừng ta chỉ phải đi một lần này thôi.
- Lần kiện này, - Hồ Nham ghé vào tai vợ Uông khẽ nói, không thể tiếc tiền được đâu.
- Tiền của tôi, - vợ Uông nói, - lâu nay gửi tạm anh, nếu không đủ dùng thì dưới giường vẫn còn một ngàn lạng. Chỉ cần mọi việc ổn thỏa, lấy thêm mà dùng cũng được.
Hồ Nham về nhà nói với cha là Hồ Đường. Hồ Đường nói:
- Trước hết phải mua chuộc xong xuôi đã, ấy là "kế phủi tay". Còn một kế nữa phải hối lộ trước ấy là kế "đi trước nước cờ" Con có biết ông ngoại của đứa con gái ấy là ai không? Đó là Kim Bính ở thị trấn. Bố ông ta là Kim Gia, từng đỗ tiến sĩ, làm Tri châu Bồi Châu. Nay tuy đã chết, song vẫn là nhà quan lại. Trương Diệu là kẻ vô dụng, ngày mai đi kiện nhất định phải đến hỏi bố vợ. Theo ta, trước tiên phải đến mua chuộc Kim Bính, bảo ông ta rằng trong đơn kiện chỉ cáo giác bọn kia, mà không viết tên con vào đó, thế là con ung dung đứng ngoài cuộc.
- Hay, hay lắm! - Hồ Nham nói. - Thế thì phải làm ngay không nên chậm trễ, cha đi ngay đi là hay nhất.

Đêm ấy Hồ Đường lập tức đến ngay nhà Kim Bính, đưa một trăm lạng bạc, xin ông ta đừng viết tên con mình vào đơn. Kim Bính thấy bạc tối mắt lại, ưng ngay.
Trương Diệu khóc hồi lâu, nghĩ rằng phải đi kiện, nhưng mù tịt chẳng biết gì, quả nhiên đến nhà bố vợ bàn mưu tính kế. Kim Bính té nước theo mưa, an ủi qua loa vài câu, bảo không phải con cà con kê nữa, không cần phải chỉ rõ tên Hồ Nham. Trương Diệu nói:
- Hồ Nham là tên đầu sỏ, sao lại không kiện nó?
- Kiện cáo thì cũng phải vuốt mặt nể mũi chứ. - Kim Bính nói. - Cha Hồ Nham là người quen biết nha môn, không phải dễ chơi đâu. Tôi nghe nói khi đánh thì nó vào phòng khuyên can, đứng về tình cũng đáng tha thứ. Vả lại kiện bọn kia thì nhất định chúng phải khai ra nó, con không cần phải kết tội cho một người có thế lực.

Đúng là tiền đã làm cho lưỡi ông ta lắt léo. Ông ta đâu có nghĩ tới sinh mạng của đứa cháu ngoan. Xưa nay Trương Diệu là kẻ ngu đần, quả nhiên nghe theo bố vợ, trong đơn kiện bỏ ngay tên Hồ Nham đi. Theo lời Hồ Nham, Uông Khách cũng đưa đơn lên huyện nói là, vì con dâu bất chính, bị mẹ chồng đánh chết. Quan huyện nhận hai lá đơn, một mặt lệnh bắt người, một mặt sai người xét nghiệm tử thi.
Cũng cần hiểu rằng, theo luật lệ về nhân mạng triều trước, thì tử thi phải do quan Chính ấn khám nghiệm. Song nay thì khác hẳn, bởi thế quan Điển sử cũng có thể khám nghiệm tử thi. Hồ Nham biết rằng việc này giao cho quan Điển sử càng dễ hối lộ, do đó hắn đã sắp đặt sẵn những quan khám nghiệm. Vì trong đơn kiện không có tên hắn, nên hắn dương dương đắc ý nghênh ngang đi lại ngoài phố, ai ai trông thấy cũng căm phẫn, song sợ hắn giở trò ác độc, nên không ai dám nói. Điển sử đến nhà họ Uông, ngồi quay ra ngoài. Người cả trấn tới xem, đứng đông nghịt hai bên. Đến khi khám nghiệm thì thấy vết dao đâm dưới hầu có thể để lọt hai ngón tay, hai mạng sườn và âm hộ đều có vết dao đâm, ai trông thấy cũng thương tâm. Những kẻ khám nghiệm nhận hối lộ chỉ báo có mấy vết thương do gậy đánh, còn tất cả những vết dao đâm đều lờ đi. Thấy vậy tất cả những người ở đó gào lên:
- Người khám nghiệm tử thi ăn tiền hối lộ! Tại sao những chỗ trọng thương lại che giấu không báo.
Họ định xông vào đánh những kẻ khám nghiệm. Điển sử cũng nhận hối lộ, thấy dân công phẫn giả vờ phạt những kẻ khám nghiệm mấy tay thước để dẹp yên sự bất bình của dân chúng. Sau đó cho người khâm liệm thi thể, rồi trở về vẫn để nguyên tờ trình đó đệ lên quan huyện. Đúng là:
Chỉ cần tay họ cầm bạc trắng
Trên đầu nào có sơ trời xanh.

HOMECHAT
1 | 1 | 199
© Copyright WAPVN.US
Powered by XtGem.Com